THỨ NĂM – TUẦN THỨ 25 THƯỜNG NIÊN A

THỨ NĂM – TUẦN THỨ 25 THƯỜNG NIÊN A

“Rồi vua tìm cách gặp Đức Giêsu” 

Phó tế. Louis Hồ Trọng Hưng

Kính thưa quý ông bà và anh chị em rất thân mến!

Là vua của một nước, Hêrôđê có tất cả mọi sự vinh hoa phú quý của thế gian: tiền tài, danh vọng, chức quyền - ông có thể sai khiến người này, ra lệnh cho người kia có khó gì. Thế nhưng đối với Đức Giêsu thì dường như ông không tài nào làm được; không tài nào ra lệnh cho Thiên Chúa. Lời Chúa ngày hôm nay đã cho chúng ta thấy được điều đó, thấy được sự bất lực của con người khi chỉ biết dùng quyền lực, sức mạnh của nhân loại trong mối tương giao với Thiên Chúa. Vua Hêrôđê có thể ra lệnh để được diện kiến Đức Giêsu, thế nhưng Thánh sử Luca đã tài tình nói lên được sự bất lực đó của vua Hêrôđê như sau : “VUA TÌM CÁCH GẶP ĐỨC GIÊSU.” Là vua nhưng phải tìm cách để gặp Đức Giêsu, chứ không phải muốn gặp là gặp.

Kính thưa quý ông bà và anh chị em. Nói đến đạo Kitô Giáo thì mỗi người Kitô hữu chúng ta phải hiểu được rằng: đạo của chúng ta là đạo của sự Nhập Thế và Nhập Thể của Thiên Chúa.

Vì yêu thương thế gian sống trong cảnh lầm than của tội lỗi, một Thiên Chúa quyền năng, đầy lòng từ bi và nhân hậu không thể đứng khoanh tay trước thế cảnh đó. Vì thế, Ngài đã hạ cố vào trần gian, và trở thành một người phàm cũng bằng xương bằng thịt như mỗi người chúng ta. Nói đến đây thì chắc cũng có vài người cho rằng: thì Ngài đến trần gian và Ngài mang hình ảnh một con người như chúng ta thì mặc kệ Ngài chứ có ảnh hưởng gì tới chúng ta đâu mà phải bận tâm???

Thế nhưng kính thưa quý ông bà và anh chị em, sỡ dĩ Thiên Chúa, Ngài làm như vậy vì khi nói đến hai từ Thiên Chúa thì con người không thể hình dung được Thiên Chúa là ai; Thiên Chúa như thế nào. Vì thế, Ngài mới trở thành con người như chúng ta để khi là con người thì Ngài mới dễ dàng nói chuyện với con người. Đó chính là điều mà Thiên Chúa muốn. Qua đó, Ngài cũng muốn nói với chúng ta rằng: Thiên Chúa, Ngài luôn đi bước trước – thay vì con người phải nhọc nhằn, loay hoay tìm kiếm Ngài trong vô vọng, thì Thiên Chúa, chính Ngài đã tìm đến với chúng ta.

Để cảm nghiệm được điều đó thì mỗi người trong chúng ta đây hãy tự vấn về niềm tin của mình thì chúng ta dễ dàng nhận ra được tình yêu đó của Thiên Chúa : Niềm tin của tôi do đâu mà có? Ai đã ban cho tôi đức tin? Tôi có được đức tin này để làm gì? Phải chăng tất cả là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, chính Ngài đã sắp đặt và thông truyền đức tin cho tôi, để tôi được trở thành con cái Ngài và được sống hạnh phúc với Ngài trên thiêng đàng. Vì thế, được gặp gỡ và biết Thiên Chúa quả là một hồng ân Chúa ban.

Do đó, giờ đây mỗi người hãy dành cho Chúa một chút thinh lặng để cảm tạ Chúa, và dồn hết tâm trí để được gặp Chúa nơi Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta sắp được cử hành trên bàn Thánh. Lạy Chúa, xin Chúa hãy ban và củng cố đức tin nơi con. Amen. 

THỨ TƯ – TUẦN THỨ 25 THƯỜNG NIÊN A

THỨ TƯ – TUẦN THỨ 25 THƯỜNG NIÊN A

Phó tế. Louis Hồ Trọng Hưng

Kính thưa quý ông bà và anh chị em; các con thiếu nhi rất thân mến.
Ngày thứ 4 hàng tuần, theo truyền thống nếu như không có một bậc lễ nào quan trọng thì trong phụng vụ, Giáo Hội hướng lòng con cái mình đến việc kính nhớ Thánh Cả Giuse. Một mẫu gương tông đồ không vì danh lợi mà hoàn toàn phó thác vào tình yêu của Chúa. Và cách trùng hợp hơn trong ngày hôm nay là hai bài đọc lời Chúa mà chúng ta vừa nghe cũng hướng từng người trong chúng ta bước theo Thánh Cả Giuse. Và hôm nay con cũng xin dừng lại chia sẻ với quý ông bà và anh chị em về 1 ý tưởng nhỏ trong bài đọc I.
Trong bài đọc I, trích sách Châm ngôn, Lời Chúa đã cho chúng ta nghe một lời cầu nguyện chân thành từ đáy lòng của ông A-gua – một bậc hiền nhân của Israel dâng lên Thiên Chúa: Xin đẩy xa con lời dối trá và chuyện lọc lừa.
Quả thật đây là một lời cầu nguyện đầy sự khôn ngoan và thánh thiện. Bởi lẽ, với sự khôn ngoan của mình – một sự khôn ngoan của con người thì A-gua có thể dùng lời lẽ, mưu trí của mình để thu vét, tích góp gây lợi lộc cho mình. Chẳng hạn ông có thể hành nghề bói toán hoặc tính toán những phương cách thu lấy tiền của của người khác... Thế nhưng, với ơn Chúa, ông đã nhận ra sự khôn ngoan mà ông có được chính là do Thiên Chúa ban và ông phải có nhiệm vụ làm cho sự khôn ngoan đó của Thiên Chúa mang lại nhiều hoa quả cho nhân loại, tức là dùng sự khôn ngoan mà Thiên Chúa ban để thánh hóa con người, giúp con người hướng đến sự sống vĩnh cửu đó là được sống bên Chúa trên thiên đàng.
Để làm được những điều đó, tác giả của sách Châm ngôn lại một lần nữa dạy cho mỗi người chúng ta một chân lý vô cùng quan trọng: Không có Thiên Chúa thì con người không thể làm được bất cứ chuyện gì hết. Và nếu có làm được chuyện gì đi chăng nữa thì cũng chỉ là những chuyện lừa lọc, mưu toan, tính toán nhằm để thu vét mang lại lợi ích cho bản thân. Đánh đổi tất cả để tìm kiếm lợi lộc.
Vì thế, lời cầu - xin cho được tránh xa sự dối trá, lọc lừa của ông A-gua quả là một sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Ông đã biết đặt sự yếu đuối của mình nơi Thiên Chúa để được Thiên Chúa hướng dẫn. Bởi lẽ, tự sức con người thì không thể mang lại được hạnh phúc cho mình và cho người khác. Nhưng chỉ có nơi Thiên Chúa: nơi Lời Chúa và nơi Bí Tích Thánh Thể trong mỗi thánh lễ hằng ngày sẽ là nguồn trợ lực khôn ngoan mà Thiên Chúa sẽ hướng dẫn và hoạt động nơi mỗi người chúng ta.
Ước mong sao bản thân con và từng người trong chúng ta đây biết dâng lên cho Chúa những yếu đuối của bản thân để xin Chúa trợ lực giúp đỡ, và Thiên Chúa sẽ đổi lấy sự yếu đuối của từng người bằng sức mạnh của Ngài. Như mẫu gương của Thánh Cả Giuse – một con người âm thầm, không vì lợi lộc bản thân mà luôn lắng nghe Lời Chúa, phó thác hoàn toàn cho Chúa hầu mang lại hạnh phúc cho người khác.
Và các con thiếu nhi thân mến, Chúa đã nói nếu các con nói xấu, nói láo, hay thêm thắt điều gì mà làm cho người khác phải đau buồn thì đó chính là những lời của ma quỷ chứ không phải lời của Thiên Chúa. Mà lời của Thiên Chúa chính là những lời dạy dỗ của ông cố, của ông bà cha mẹ. Vì thế, các con hãy siêng năng đi lễ đọc kinh và vâng theo lời dạy dỗ của người lớn. Amen.

BAN PHÉP LÀNH QUA ĐIỆN THOẠI ĐƯỢC KHÔNG ?

Ban phép lành qua điện thoại được không?

Giải đáp của Cha Edward Mc Namara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
 
Hỏi: Thưa cha, có đúng là trong cách nào đó cầu nguyện cho một người qua điện thoại không? Người ta có thể xin một tân linh mục ban phép lành cho mình qua điện thoại không? - O. C., Avezzano, Ý.

Đáp: Về việc cầu nguyện, tôi thấy không có lý do tại sao là không. Nếu chúng ta có thể cầu nguyện cho ai đó từ xa, chẳng hạn như khi chúng ta lần hạt Mân côi để chỉ ý cho một người bạn hoặc người thân cần cầu nguyện, thì việc chúng ta cùng đọc với họ cách nào đó qua điện thoại hoặc các phương tiện truyền thông kỹ thuật, có thể là một phương tiện để tăng cường hiệu lực ấy từ một quan điểm chủ quan.

Trong trường hợp linh mục ban phép lành, chúng ta cần phải phân biệt một số yếu tố. Nếu việc ban phép lành là một lời cầu nguyện, tôi tin rằng một phép lành đơn giản có thể được trực tiếp chuyển qua bằng phương tiện điện tử, nếu ý định của linh mục là để cầu xin phước lành của Thiên Chúa trên người ấy.

Có một số người không đồng ý với quan điểm này, và tin rằng một việc ban phép lành của loại này được dành riêng cho Đức Thánh Cha. Các tài liệu là rõ ràng về quyền của Giáo Hoàng để ban các phép lành như vậy, nhưng không nói gì về các trường hợp khác.

Khi Đức Thánh Cha ban phép lành "Urbi et Orbi", bất cứ ai nhận phép lành này qua việc truyền tải trực tiếp là thực sự được Giáo Hoàng ban phép lành, và cũng hưởng các lợi ích từ đại xá gắn liền với phép lành ấy. Phép lành của Giáo Hoàng nhất thiết gắn liền với ơn đại xá, và chỉ Ngài mới có thể ban mà thôi.

Ơn đại xá này, và cả phép lành nữa, không được nhận lãnh qua việc truyền tải trễ lại. Như ‘Sách Enchiridion các Ân Xá’ nói: "Ơn đại xá được ban cho tín hữu nào, không hiện diện vì lý do hợp lý khi Giáo Hoàng ban phép lành, nhưng theo dõi một cách đạo đức các nghi thức này qua truyền hình hoặc truyền thanh 'dum peraguntur', nghĩa là 'trực tiếp khi các nghi thức ấy đang được thực hiện”.

Tôi tin rằng nguyên tắc phép lành không được ghi âm cũng sẽ áp dụng cho các giáo sĩ khác, vì họ chỉ có thể ban một phép lành đơn giản qua điện thoại, máy phát thanh hoặc phương tiện khác. Mặc dù một linh mục có quyền ban phép lành, nhưng việc ban phép lành, ngay cả trong hình thức đơn giản nhất, là một nghi thức của Giáo Hội, và các nghi thức đòi hỏi một hình thức tham gia trực tiếp nào đó.

Một phép lành được ghi âm có thể là một nguồn ân sủng, cũng giống như việc lần chuỗi Mân côi ghi âm có thể tác động chúng ta cầu nguyện. Nhưng nó không phải là một nghi thức của Giáo Hội, và trong trường hợp này, nói cho đúng, nó không đi vào phạm trù của á bí tích.

Cũng vậy, việc ban phép lành như thế không áp dụng cho các phép lành cấu thành, vốn đòi hỏi sự hiện diện thể lý của người hoặc đồ vật được ban phép lành. Các việc ban phép lành ấy chỉ liên quan đến các người làm việc ở trường học, nghề nghiệp tôn giáo… hoặc làm phép các đồ vật như chén thánh hoặc tràng hạt.

Một ngoại lệ này là rằng Đức Thánh Cha, trong một số trường hợp, có thể mở rộng ý định làm phép của mình để làm phép cho các đồ vật đạo đức, như các huy hiệu và tràng hạt qua đài phát thanh, truyền hình và Internet, cho những người theo dõi việc truyền tải trực tiếp. Điều này không thể được coi đúng cho mọi việc truyền thanh truyền hình thánh lễ Giáo Hoàng (hiện nay thường là phổ biến trong kỷ nguyên Internet), và ý định của Ngài thường cần được nói rõ.

Trong cùng một dòng suy tư này, tôi cũng sẽ nói rằng các phép lành phụng vụ trong Sách các Phép sẽ không nhất thiết là hiệu quả như là phép lành, nếu nghi thức ngụ ý một cách tự nhiên sự hiện diện thể lý của người được chúc lành.

Tuy nhiên, các công thức tương tự có thể được sử dụng như lời cầu nguyện cho các người đang ở xa. (Zenit.org 227-2014)

Nguyễn Trọng Đa chuyển ngữ 
Nguồn: Gpquinhon.org


PHẢI CHĂNG VŨ TRỤ DO "NGẪU NHIÊN" MÀ CÓ ?

Phải chăng Vũ Trụ do “ngẫu nhiên” mà có?

Theo thiển ý người viết, cần giải thích ý nghĩa của “ngẫu nhiên, thiên nhiên, tự nhiên, tạo hóa” trước khi mạo muội trả lời cho câu hỏi đã nêu ở tựa đề.
I- Ý nghĩa của chữ “ngẫu nhiên”
A- Từ “Việt-Nho”
“Ngẫu” (偶) là “thình lình, tình cờ”, “nhiên” (然) là “như thế”. Chuyện “ngẫu nhiên” là việc “tình cờ xảy ra như vậy!”
B- Từ Anh, Pháp, Đức: par hasard; by chance; zufällig
1- Tiếng Anh: I met her by chance. (Tôi tình cờ gặp nàng.)
2- Tiếng Pháp: Si par hasard vous la voyez… (Nếu tình cờ anh gặp nàng…)
3- Tiếng Đức: Ich bin zufällig hier vorbeigekommen. (Tôi tình cờ đi qua đây.)
C- Nhận định về các câu ở phần B
Việc “gặp nàng” hay “đi qua nơi ấy” rõ ràng là KHÔNG DO chủ ý của tôi. Tuy nhiên, nếu bảo rằng hai “sự việc” ấy KHÔNG CÓ nguyên nhân thì tôi sai hoàn toàn bởi vì:
1- Nàng có LÝ DO nào đó mới đi qua nơi tôi cũng đi qua, chẳng hạn: do lầm đường, đang vui hay buồn quá đến nỗi nàng “quên” đường về.
2- Tôi cũng có LÝ DO là đến tiệm hớt tóc ở đường mà nàng “vô tình”, tức “không chủ ý” đi qua.
Cả hai, nàng và tôi, gặp nhau là DO tình cờ. Chữ TÌNH CỜ có nghĩa: không tính trước, không dè. Như vậy, xét cho cùng, ngoài hai LÝ DO đã nêu, TÌNH CỜ cũng là NGUYÊN NHÂN “đưa đẩy” nàng và tôi gặp nhau bởi vì:
a- Theo Luận Lý Học VỠ LÒNG, một trong bảy nguyên tắc căn bản của Lý Trí là: “Mọi sự đều có nguyên nhân.” đúng như câu nói của Gottfried Wilhelm Leibniz, nhà Toán Học, Triết Gia Đức: “KHÔNG có gì CHẲNG có gì mà KHÔNG có lý do.” (Rien n’a rien sans raison.)
b- Người Việt cũng viết, nói như người Anh, Pháp, Đức, chẳng hạn: “Tôi gặp nàng hoàn toàn DO tình cờ.” (I met her quite BY chance. Je l’ai vue complètement PAR hasard. Ganz DURCH Zufall habe ich sie gesehen.) Giới từ BY, PAR, DURCH đều có nghĩa: do, bởi, vì, qua.
3- Có thể thay “par hasard” bằng “par accident” và thay “by chance” bằng “by accident” vì “accident” do từ Latinh “accidens, accidentis” (participe présent) của động từ “accidere: xảy ra” có tiếp đầu ngữ “ac” (1) là do “ad” (có nghĩa: to, upon; à, sur) và ngữ căn “cidere” có nghĩa là “tomber, fall”: rơi. Người Đức cũng có chữ “Akzidenz” cùng nghĩa với Zufall mà “nguyên nghĩa: sens étymologique” là việc RƠI TRÚNG, RƠI XUỐNG…
Trong bài hát “Il était un petit navire”, có câu nói về số phận người sẽ bị ăn thịt: “Le sort tomba sur le plus jeune.” (Thủy thủ trẻ nhất BỊ trúng thăm.) Người Pháp cũng nói: “La pleine lune de ce mois tombe le samedi.” (Trăng tròn tháng này NHẰM ngày thứ bảy.) CHẲNG ai có thể bắt trăng phải tròn vào ngày mình muốn VÌ đó là “hiện tượng” theo QUY LUẬT DO ÔNG TRỜI LÀM NÊN, chứ KHÔNG DO tình cờ, chẳng hạn: hiện tượng mà chúng ta gọi là nhật thực, nguyệt thực.
4- CŨNG cho rằng “mọi sự đều có nguyên nhân” mà người Pháp định nghĩa chữ “ngẫu nhiên: hasard” như sau: “NGUYÊN NHÂN được gán cho các biến cố mà người ta xét là KHÔNG THỂ giải thích hợp lý BỞI VÌ các biến cố ấy chỉ tùy thuộc vào LUẬT xác suất.” (hasard: CAUSE attribuée aux événements considérés comme inexplicables logiquement et soumis seulement à LA LOI des probabilités.) Họ cũng viết: “Le hasard décidera.” (Sự ngẫu nhiên sẽ quyết định.) Người Đức viết “văn hoa” như người Pháp, Anh: “Der glückliche Zufall wollte es, dass… Le hasard voulut que… The chance wanted that…” Nếu dùng cách ấy cho trường hợp của chàng thủy thủ trẻ thì có thể dịch như sau: “SỐ LÀ anh ta bị trúng thăm.” (Le hasard voulut que le sort tombât sur lui.) Anh ta “không ngờ” mình gặp xui; cái xui ấy vẫn có NGUYÊN NHÂN: hết lương thực, thủy thủ đoàn sợ chết đói, ĐÀNH phải bốc thăm ĐỂ có thịt MÀ ăn. Anh ta BÈN lên boong tàu, quỳ gối, chắp tay cầu nguyện: “Ôi, lạy Thánh Nữ Đồng Trinh, ôi lạy Đấng Bảo Hộ con, xin Mẹ ngăn cản họ ăn thịt con.” (Ô Sainte Vierge, Ô ma Patronne, empêchez-les-les-les de me manger.) THẾ LÀ “vô số cá nhỏ nhảy vào tàu” là hiện tượng CÓ nguyên nhân, tức phép lạ QUA Trinh Nữ, NHỜ lời van xin CỦA anh ấy. NẾU cho rằng CHẲNG có phép lạ THÌ việc cá nhảy lên tàu cũng DO nguyên nhân nào đó.
II- Các chữ “nhiên, thiên nhiên, tự nhiên, tạo hóa”
A- “Nhiên”
Theo Cụ Đào Duy Anh, chữ “nhiên” (然) còn có nghĩa nầy: CỐ Ý CHO ĐƯỢC. Có người nghĩ rằng Vũ Trụ DO “tự nhiên” mà ra. Vậy, xin người ấy “nghe” cách giải thích sau đây:
B- Thiên nhiên (vẫn theo Cụ Đào Duy Anh): “Thiên nhiên” cũng là Tự nhiên. Tự nhiên tức Tạo hóa, là “sáng tạo và hóa sinh”, là “Trời: Créateur!”
C- Từ Điển của Cao Đài: “Thiên nhiên là Trời LÀM RA như thế.” (Chữ “Trời” được viết hoa.)
D- Từ Điển (Lê Khả Phiêu-Nguyễn Lân, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam): “Tạo hóa: Créateur.”
E- Từ Điển (Đào Đăng Vỹ): “Tạo hóa, ĐẤNG Tạo-hóa: Le Créateur.”
F- Tự Điển Việt-Anh (Đặng Chấn Liêu-Lê Khả Kế): “Tạo hóa: The Creator.”
G- Cuốn Vietnamesisch-Deutsch (Phan Trung Liên): “Tạo hóa: Weltschöpfer.”
III- Vũ Trụ không do ngẫu nhiên mà có
Kinh Thánh (Cựu và Tân Ước) ghi lại Lời Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng dựng nên Vũ Trụ từ hư không. Tuy nhiên, vẫn có người cho rằng Vũ Trụ hiện hữu là do ngẫu nhiên! Vậy, tôi xin viết thêm:
A- Tôi chẳng phải là “sản phẩm phụ, tình cờ trong Vũ Trụ” (an accidental by-product of nature) bởi vì tôi khác với loài vật và sự vật: tôi biết lý do, ý nghĩa, mục đích của đời mình, linh hồn tôi bất tử…
B- Cho nên, tôi KHÔNG sống theo bản năng như súc vật, mà theo Thiên Ân là mang Hình Ảnh của Đấng dựng nên Vũ Trụ VÌ Vinh Quang của Ngài, CHO tôi và VÌ tôi.
C- Tôi KHÁC “con chim ở đậu cành tre, con cá ở trọ trong khe nước nguồn” VÌ tôi có lý trí, lương tri, KHÔNG “hót như chim”, MÀ “hát Thánh Ca” ĐỂ tôn vinh Thiên Chúa ĐÃ “sáng tác bao nhiêu là Kỳ Công” CHO nhân loại hưởng nhờ, ngắm nhìn, suy nghĩ VÀ nhận ra ĐẤNG TOÀN NĂNG!
D- Nếu Vũ Trụ này DO “tình cờ”, tức KHÔNG CÓ Đấng Tạo Hóa thì nên XÓA ĐI trong Tự Điển Bách Khoa các chữ “Datum, date, data” (có nghĩa: “ngày, tháng, năm” do Đấng-phi-thời-gian-phi-không-gian làm ra) vốn có gốc Latinh DATUM (được CHO, ĐƯỢC TẶNG) và những lời dạy của Thánh Hiền Việt Nam, của Thầy-Cô, của Tổ Tiên, của Ông-Bà, Cha-Mẹ tôi đều CHỈ là vô nghĩa VÌ các Vị ấy đã trở thành “TRO BỤI” trong lòng đất! Cho nên tôi phải thờ lạy “Vũ Trụ tự hữu, VÔ TRI” bởi vì ĐÂU CÓ “Tòa Án Tối Cao” của Thượng Đế mà tôi tưởng tưởng ra. Mắc mớ gì mà tôi phải sống “Đạo làm người” vì chết là hết cơ mà!?
E- Nếu Vũ Trụ này là “vô nghĩa” thì các nhà bác học vô thần là những người KHÔNG TƯỞNG (2) vì, (bằng những lập luận không có sức thuyết phục tôi và TUYỆT đại đa số người khác), họ phải UỔNG công chứng minh “Đấng-Không-Có” khiến tôi tự nghĩ: “Họ cũng nên khẳng định rằng Cổ Thành Erbil ở Iraq là DO TÌNH CỜ MÀ CÓ cách đây chừng 10.000 năm, CHỨ CHẲNG CÓ AI dựng nên nó cả!”
F- Nếu Vũ Trụ này DO “tình cờ” thì AI là “Đấng Toàn Tri, Toàn Năng, Trên Cả tuyệt đối, Đấng Vô Hạn” (L’Infini) chế ra cái Cổ Máy CỦA Trời (Thiên Cơ) và trật tự lạ lùng của NÓ? Đó là CHƯA nói đến “phép lạ” trong từng tế bào nơi thân xác tôi mà con người CHẲNG tạo ra được từ hư không!
G- Nếu Vũ Trụ này DO “tình cờ” thì TẤT CẢ các THIÊN thể đã HÚC nhau và NỔ TUNG từ đời nào VÀ CHẲNG CÓ TÔI ngồi đây mà viết bài tôn vinh Chúa Cả Càn Khôn!
H- Máy Lotto “chọn” 6 con số trong 49 con. Máy ấy có tới 13.983.816 cách để cho chui ra 6 số mà thôi. Ai trúng thì là người may mắn KHÔNG do tình cờ VÌ máy đó là sản phẩn của những nhà Toán Học. Nhưng nhà Toán Học nào cũng THUA Đấng-Toán-Học-Toàn-Năng, chính là Thiên Chúa!!!
Đức Quốc, 23.7.2014
Đaminh Phan Văn Phước
Ghi chú
(1)- Giới từ “ad” Latinh cũng biến thành “à” trong tiếng Pháp và thành “at” trong tiếng Anh.
(2)- Cái “không tưởng” (utopie) do tiếp đầu ngữ Hylạp οὐ /u/ là “không”, và do ngữ căn τοπος /topos/ là “chỗ, nơi chốn”. Người-không-tưởng (utopiste) là thành phần đi theo chủ nghĩa “không tưởng”: doctrine utopiste, dạy những điều không tưởng!!!

Nguồn: lamhong.org


THẾ NÀO LÀ LỖI ĐỨC BÁC ÁI KITÔ GIÁO?

Thế nào là lỗi đức bác ái Kitô giáo?

Thánh Phaolô, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, viết: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”( 1Cr 13:13).

Sở dĩ ngài nhấn mạnh về Đức ái như vậy,  vì căn cứ vào lời  Giêsu đã truyền cho các môn đệ và mọi người chúng ta phải  tuân giữ và thực hành hai giới răn quan trong nhất là mến Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi” và “yêu người thân cận như chính mình”(Mc 12:30-31).

Thật vậy, yêu người khác như yêu chính mình, đó là đức ái Công giáo. Đó là đức mến mà Thánh Phaolô đề cao hơn cả đức tin và đức cậy. Điều này thật chí lý vì nếu chúng ta tin có Chúa, yêu mến Chúa và hy vọng có ngày được gặp Chúa nhãn tiền thì chúng ta phải thể hiện niềm tin và cậy trông đó bằng đức ái nồng nàn. Nói khác đi, đức ái là thước đo đức tin và đức cậy. Nhưng làm thế nào để chứng tỏ chúng ta thực sự tin và yêu mến Chúa?

Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta bí quyết: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (Jn 14:21).

"Có và giữ" nghĩa là biết những giới răn của Chúa và thực hành những giới luật đó để minh chứng niềm tin và lòng mến Chúa thực sự.

Như vậy, thực hành tốt hai điều răn quan trọng nhất của Chúa về yêu mến Người và yêu tha nhân  là  cách biểu lộ hùng hồn nhất về niềm tin và yêu mến Chúa thực sự.

Trong giới hạn bài  này, tôi xin được trình bày đại cương về giới luật yêu mến tha nhân như yêu chính mình và những lỗi phạm đến điều răn quan trọng này.

Yêu mến người khác như yêu chính mình trước hết có nghĩa là mình ước muốn những gì tốt đẹp, hữu ích cho mình thì mình cũng phải mong muốn và làm những việc ấy cho người khác. Mình muốn được cơm no áo ấm, có những  phương tiện vất chất tối thiểu cần thiết để sống xứng đáng cương vị làm người thì cũng phải mong muốn và giúp người khác có được những nhu cầu cần thiết đó. Mình muốn danh dự, tiếng tốt cho mình thì cũng có bổn phận phải tôn trong danh dự và tiếng tốt của người khác như vậy. Nói khác đi, nếu mình không muốn bị hiểu lầm bị vu cáo những điều xấu thì cũng không bao giờ được phép gây ngộ nhận cho ai hoặc vô tình hay cố y bêu xấu ai vì bất cứ lý do gì. Sau hết, mình muốn được thăng tiến về mặt trí thức và siêu nhiên, thì cũng phải quan tâm đúng mức đến lợi ích tinh thần và thiêng liêng của người khác. Có như vậy mới thực sự là yêu người như Chúa dạy.

Nói tóm lại, dùng thước bác ái để đo mình thế nào thì cũng phải dùng chính thước đó mà áp dụng cho người khác như vậy. Nhưng trong thực tế, có rất nhiều người đã không sống bác ái hoặc tệ hơn nữa là đã lỗi phạm nhân đức này cách nặng nề.

Cái tội lớn nhất của con người ngày nay ở khắp mọi nơi trên thế giới là tội dửng dưng (indifference) trước sự đau khổ của người khác. Đau khổ về thể lý như đói nghèo, tù đày, bị đánh đập, hành hạ thân xác… Đau khổ về tinh thần như bị khinh chê, kỳ thị, lăng mạ, sỉ nhục, bị bêu xấu trong công luận. Gây cho người khác những đau khổ này hoặc dửng dưng khi thấy người khác phải chịu những đau khổ đó đều lỗi phạm đức ái mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải tuân giữ để được vào Nước Trời, là Vương Quốc của công bình, thánh thiện, và yêu thương. Có người đã nại lý do muốn sửa lỗi của anh chị em để giúp họ cải tiến. Thiện chí này rất tốt và phù hợp với Phúc Âm nhưng phải thi hành đúng với tinh thần mà Chúa Giêsu đã dạy trong Phúc Âm Thánh Matthêu như sau:

“Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi.

Nếu nó chịu nghe anh,thì anh đã được món lợi là người anh em mình.Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào hai hoặc ba chứng nhân.Nếu nó không nghe họ thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế”(Mt 18:15-   ).

Như vậy, chỉ vì động cơ  bác ái thúc đầy mà ta muốn sửa lỗi người khác để giúp họ trở nên tốt hơn, chứ không vì một lý do nào khác.

Nghĩa là, phải đoan chắc rằng vì bác ái của Phúc Âm, vì thiện chí muốn giúp cho anh chị em mình nên hoàn thiện mà phải khôn ngoan sửa lỗi cho người khác để họ biết sống đẹp lòng Chúa .

Việc này hoàn toàn khác với mọi ý đồ muốn bêu xấu ai  vì lầm lỗi nào đó. Người ViệtNam hay mắc một tội thông thường là tội “nói hành nói tỏi người khác”. Chuyện gì không hay không tốt về người khác thường được loan truyền mau lẹ trong cộng đồng, giữa những người quen biết nhau. Chi tiết của câu chuyện được rỉ tai cứ gia tăng thêm từ người này sang người khác. Cuối cùng chỉ có nạn nhận chịu mọi thiệt thòi, tai tiếng bất công. Như thế, loan truyền tin cho  người khác biết chuyện  không tốt của ai  mà hậu quả làm mất danh dự, tiếng tốt của người ấy là chắc chắn lỗi đức bác ái Công giáo.

Lại nữa, công khai bêu xấu ai, hoặc lợi dụng truyền thông, báo chí để cố ý diễn dịch sai ý kiến của người khác hầu dành thắng lợi cho phe nhóm của mình cũng là  lỗi đức ái Kitô Giáo. Nghĩa là, không phải trách nhiệm của mình, nhưng chỉ vì muốn bêu xấu ai đó để thủ lợi cho phe nhóm mình  nên đã tìm mọi cách để loan tin cho người khác biết chuyện kín hay xuyên tạc lời nói hoặc tư tưởng của người thứ ba là phạm tội cả về mặt pháp lý lẫn đạo đức Kitô Giáo. Tuyệt đối không có cơ sở luân lý, Kinh Thánh hay tín lý nào cho hành vi bêu xấu làm nhục người khác ở trong và ngoài Giáo Hội. Không ai có quyền tự dành  cho mình trách  nhiệm tố cáo để bôi nhọ người khác trước công luận xã hội dù núp dưới với bất cứ danh nghĩa nào. Phải tôn trọng danh dự, đời tư,  tính mạng và  tài sản của người khác như chính của mình. Đây là giới luật bác ái và công lý đòi buộc mọi công dân và giáo dân phải tuân giữ khi sống trong xã hội và Giáo Hội.

Tóm lại, bác ái không chỉ giới hạn trong việc cho người đói ăn, cho kẻ khát uống, kẻ rách rưới áo quần. Hơn thế nữa, Bác ái đòi hỏi phải yêu mến và tôn trọng người khác như chính mình, vì mọi người đều là hình ảnh của Chúa và là anh chị em với nhau.

Vậy nếu không yêu thương, tôn trọng được người anh em mà chúng ta trông thấy, gặp gỡ thường ngày trong cuộc sống thì làm sao chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng chúng ta không nhìn thấy được trong cuộc sống ở đời này? 

LM. Px. Ngô Tôn Huấn

Nguồn: conggiao.info

TRÁCH NHIÊMJ CỦA CHA MẸ KHI CƯỚI VỢ KHÁC CHO CON

Trách nhiệm của cha mẹ khi cưới vợ khác cho con

Có một đôi vợ chồng kia, có làm phép Hôn phối, sau khi ăn ở với nhau được một người con thì người vợ bỏ đi vì làm đổ nợ. Người chồng sau một thời gian lại cưới một cô vợ khác và chỉ làm phép đời mà thôi, vì hôn phối trước theo phép đạo vẫn còn. Như vậy nếu cha mẹ của anh này chấp thuận cho anh ta cưới vợ khác, vì người vợ trước đã ra tòa ly hôn, thì cha mẹ của anh này có mắc lỗi không và có được rước lễ không ? (T.T.H.H., Giáo xứ Tân Bình).

Trả lời

Mặc dù người chồng đã ra tòa án dân sự ly hôn với người vợ trước, nhưng anh vẫn còn đang bị ràng buộc bởi dây hôn nhân theo phép đạo với người vợ trước, cho nên mắc ngăn trở và không thể kết hôn theo luật Giáo Hội với người vợ sau được (x. GL. điều 1085 §1). Dù người chồng có giấy đăng ký kết hôn theo luật đời với người vợ sau, nhưng cả hai người không phải vợ chồng trước mặt Chúa và Giáo Hội. Người chồng ly dị và tái hôn thì rõ ràng là vi phạm Điều răn của Chúa, sống trong tình trạng ngoại tình công khai và thường xuyên (x. GLHTCG số 2384).

1. Trách nhiệm của cha mẹ: Có mắc lỗi không?

Trong trường hợp cha mẹ của anh chấp thuận cho anh cưới vợ khác thì không thể không mắc lỗi đồng phạm, nhưng mức độ nặng hay nhẹ tùy thuộc vào thái độ chấp thuận tích cực hay tiêu cực. Theo “Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo”, số 1868, tội là một hành vi cá vị, nhưng chúng ta có trách nhiệm trong các tội người khác phạm, khi chúng ta cộng tác vào các tội đó, bằng cách:

“- tham gia một cách trực tiếp và tự nguyện vào các tội đó;
- ra lệnh, xúi giục, khen ngợi hoặc tán thành những tội đó;
- không tố cáo hoặc không ngăn cản các tội đó, khi có bổn phận phải can ngăn;
- che chở những người làm điều xấu”.

Nếu cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho con trai, thì chắc chắn sẽ mắc lỗi nặng hơn với việc chỉ chấp thuận cho con muốn làm gì thì làm. Dù sao đi nữa, Giáo Hội cũng lưu ý chúng ta rằng: “Mặc dầu chúng ta có thể phán đoán một hành vi nào đó tự nó là một lỗi phạm nặng, chúng ta vẫn phải phó thác việc phán xét các nhân vị cho sự công bằng và lòng thương xót của Thiên Chúa” (GLHTCG số 1861).

2. Và có được rước lễ không?

Người ta thường hiểu việc có được rước lễ hay không ở đây là có bị vạ tuyệt thông (bị dứt phép thông công) hay không. Trong Bộ Giáo Luật hiện hành, không có điều khoản nào quy định phạt vạ tuyệt thông ngay tức khắc (nghĩa là cấm xưng tội rước lễ do chính sự kiện phạm tội) cho cha mẹ chấp thuận cho con cái ly dị và tái hôn. Tuy nhiên, Đức Giám mục giáo phận có quyền ra hình phạt vạ tuyệt thông đối với giáo dân trong giáo phận của mình (x. Điều 1315). Nếu Giáo phận nào có thiết lập hình phạt vạ tuyệt thông đối với loại tội phạm này thì lúc đó hình phạt mới được áp dụng. Thông thường, tùy theo mức độ tội nặng hay nhẹ trong việc cộng tác vào việc phạm tội của người con, mà cha mẹ có được rước lễ hay không. Nếu cha mẹ có tội nặng thì chắc chắn không được đi rước lễ. “Ai biết mình đang mắc tội trọng, thì phải lãnh nhận bí tích Hòa Giải trước khi đi lên rước lễ” (GLHTCG số 1385). Tuy nhiên cha mẹ đương sự cũng nên suy nghĩ điều này: không phải cứ cố tình vi phạm lề luật Chúa, gây ra gương mù gương xấu trong giáo xứ rồi đi xưng tội là xong. Hối nhân còn phải làm hết sức có thể để sửa sai (x. GLHTCG số 1459). Làm thế nào để sửa sai này đây?

Tác giả bài viết: Lm. LG Huỳnh Phước Lâm 
Nguồn tin: gplongxuyen.org


QUY ĐỊNH CỦA BỘ PHỤNG TỰ VÀ KỶ LUẬT CÁC BÍ TÍCH VỀ NGHI THỨC CHÚC BÌNH AN TRONG THÁNH LỄ

Quy định của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích về nghi thức chúc bình an trong Thánh Lễ

 Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, trong một Thư luân lưu mới ra gần đây, công bố rằng thời điểm chúc bình an trong Thánh Lễ sẽ không thay đổi, và đưa ra một số khuyến nghị giúp cho việc cử hành nghi thức này được xứng hợp hơn.
“Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích… quyết định giữ nguyên ‘nghi thức’ và ‘cử chỉ’ chúc bình an vào thời điểm hiện nay trong Nghi thức cử hành Thánh Lễ”, cha Jose Maria Gil Tamayo, Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, đã viếtnhư trên trong bản Thông báo ngày 28 tháng Bảy vừa qua.
Cha nói rằng quyết định này được đưa ra sau khi xem xét thời điểm của nghi thức chúc bình an như “một đặc trưng củanghi lễ Roma”, và cho rằng việc “có những thay đổi cấu trúc Thánh lễ vào lúc này là không thích hợp đối với các tín hữu”.
Cử chỉ chúc bình an được cử hành sau khi truyền phép và ngay trước khi rước lễ; tuy nhiên đã có đề nghị dời cử chỉ này vào thời điểm trước khi dâng của lễ.
Bản thông báo của cha Gil đã được gửi đến các giám mục Tây Ban Nha cùng với Thư luân lưu của Bộ Phụng tự, do Đức hồng y Bộ trưởng Antonio Cañizares Llovera, và Đức Tổng giám mục Thư ký Arthur Roche, ký ngày 8 tháng Sáu. Và ngày hôm trước, Thư luân lưu này đã được Đức giáo hoàng Phanxicô phê chuẩn và xác nhận.
Thư luân lưu đưa ra 4 khuyến nghị cụ thể nhằm bảo vệ chân giá trị của cử chỉ chúc bình an, tránh những lạm dụng.
Cha Gil cho biết Thư luân lưu là kết quả của Thượng Hội đồng Giám mục năm 2005 về Thánh Thể, trong đó các giám mục đã bàn về việc có thể dời nghi thức chúc bình an vào lúc khác hay không.
“Thượng Hội đồng Giám mục cần điều tiết khi thực hành cử chỉ này, vì rất thường mang những hình thức thái quá và làm cho bầu khí cộng đoàn loãng đi trước lúc hiệp lễ”, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết như trên trong Tông huấn hậuThượng Hội đồng Sacramentum Caritatis.
Ngài nói thêm rằng: “Xét đến các thói quen cổ xưa và đáng kính cùng với những ước muốn của các nghị phụ Thượng Hội đồng, tôi đã đề nghị các Bộ có thẩm quyền nghiên cứu khả năng đặt việc chúc bình an vào lúc khác, ví dụ trước khi dâng lễ vật lên bàn thờ. Hơn nữa việc lựa chọn như thế làm nhớ lại một cách ý nghĩa lời khuyên răn của Chúa Giêsu rằng “Nếu ngươi sực nhớ ra anh em có điều bất bình với ngươi, hãy để của lễ ngươi trên bàn thờ, đi làm hòa cùng anh em trước đã” (Mt 5,23). Như thế có lẽ cũng sẽ khiến cho nghi lễ Roma phù hợp, về mặt này, với nghi lễ Ambrôsiô cử hành ởMilano.
Con đường Tân Dự tòng, một phong trào giáo dân trong Giáo hội, cũng đã dời nghi thức chúc bình an (trong nghi lễ Roma) đến trước khi dâng lễ vật.
Quyết định của Bộ Phụng tự giữ nguyên thời điểm chúc bình an là kết quả của cuộc đối thoại với các giám mục trên thế giới, bắt đầu từ năm 2008, và tham khảo ý kiến ​​với cả Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI và Đức giáo hoàng Phanxicô.
Bộ Phụng Tự cho biết sẽ “đề ra một vài biện pháp thiết thực để diễn tả tốt hơn ý nghĩa của cử chỉ chúc bình an và điều tiết những thái quá, thường gây ra xáo trộn trong cộng đoàn phụng vụ ngay trước khi rước lễ”.
“Nếu các tín hữu không hiểu và không bày tỏ, qua cử chỉ của mình, ý nghĩa thực sự của việc chúc bình an, quan niệm Kitô giáo về bình an của họ sẽ trở nên nghèo nàn, và việc tham dự Thánh lễ thiếu tính hiệu quả”.
Vì thế, Bộ Phụng tự đã đưa ra 4 khuyến nghị, tạo thành “nòng cốt” giáo lý của cử chỉ chúc bình an.
Trước hết, Bộ Phụng tự vừa khẳng định tầm quan trọng của nghi thức, vừa nhấn mạnh rằng “hoàn toàn hợp pháp khi khẳng định rằng không cần thiết phải mời các tín hữu chúc bình an một cách máy móc”. Nghi thức này là tùy ý, và chắc chắn có những lúc và những nơi mà nghi thức ấy không phù hợp.
Thứ hai, như bản dịch của ấn bản thứ ba Sách Lễ Rôma đã nói, Hội đồng Giám mục nên xem xét “thay đổi cách chúc bìnhan”. Đặc biệt, nên thay thế các cử chỉ chúc bình an “thông dụng và mang tính thế tục” bằng các cử chỉ khác “thích hợp hơn”.
Thứ ba, Bộ Phụng tự cũng lưu ý rằng cần phải chấm dứt nhiều vi phạm về nghi thức chúc bình an: chẳng hạn việc hát “bài ca hoà bình”, vốn không có trong nghi lễ Roma; việc các tín hữu rời chỗ để chúc bình an; linh mục rời khỏi bàn thờ để chúc bình an với các tín hữu; và những khi –trong những dịp như đám cưới hoặc đám tang–, nó trở thành một dịp để chúc mừng hay chia buồn.
Và cuối cùng, Bộ Phụng tự khuyến nghị các Hội đồng Giám mục cần chuẩn bị giáo lý phụng vụ về ý nghĩa của nghi thứcchúc bình an, và việc tuân thủ đúng đắn nghi thức này.
Thư của Bộ Phụng tự kết luận: “Rõ ràng, mối quan hệ mật thiết giữa ‘lex orandi’ (luật cầu nguyện) và ‘lex credendi’ (luật đức tin) nên được mở rộng thành ‘lex vivendi’ (luật sống)”.
“Việc người Công giáo ngày nay đang đứng trước nghĩa vụ nặng nề phải xây dựng một thế giới hoà bình và công bằng hơn, bao hàm phải hiểu biết sâu sắc hơn ý nghĩa Kitô giáo của sự bình an và cách diễn tả bình an trong cử hành phụng vụ”.
(CNA) 
Minh Đức
Nguồn: WHĐ